Sửa Nghị định 123/2020 về hóa đơn điện tử: Đề xuất sửa đổi bổ sung 6 nội dung

Tháng Chín 28, 2023 10:36 sáng
  06 ni dung ca Ngh 쒑nh 123 v h쎳a 쒑욡n 쒑in t 쒑우c 쒑 xut sa 쒑i b sung B T쎠i ch쎭nh 쒑ang슠d tho Ngh 쒑nh슠sa 쒑i슠Ngh 쒑nh 123/2020슠v h쎳a 쒑욡n 쒑in..

 

06 nội dung của Nghị định 123 về hóa đơn điện tử được đề xuất sửa đổi bổ sung

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 123/2020 về hóa đơn điện tử, tại Tờ trình có nêu 6 nội dung được đề xuât sửa đổi, bổ sung bao gồm:

(1) Sửa đổi, bổ sung một số quy định về hóa đơn điện tử nhằm đảm bảo minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, các tổ chức trong việc sử dụng hóa đơn, biên lai, chứng từ điện tử và bổ sung quy định quản lý chứng từ trong hoạt động kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh giải trí có đặt cược;

(2) Bổ sung quy định liên quan đến giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế gian lận khi doanh nghiệp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử và trong quá trình sử dụng hóa đơn điện tử, quy định về trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử;

(3) Sửa đổi, bổ sung quy định về biên lai, chứng từ;

(4) Sửa đổi, bổ sung quy định về tra cứu, cung cấp, sử dụng thông tin hóa đơn điện tử;

(5) Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan trách nhiệm của các bênh trong việc quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ;

(6) Sửa đổi các biểu mẫu, thủ tục.

Sửa đổi, bổ sung quy định về nội dung hóa đơn điện tử

Đối với nội dung về nội dung hóa đơn điện tử, Dự thảo sửa đổi điểm b khoản 3, điểm b khoản 5, điểm a, c, d, đ khoản 6, khoản 9, điểm c khoản 13, điểm c khoản 14; loại bỏ điểm d khoản 14; bổ sung điểm L khoản 14 và bổ sung khoản 17 của Điều 10 Nghị định 123/2020; chi tiết cụ thể như sau:

– Sửa đổi điểm b khoản 3 (Nội dung về số hoá đơn)

“b) Trường hợp số hóa đơn không được lập theo nguyên tắc nêu trên thì hệ thống lập hóa đơn điện tử phải đảm bảo nguyên tắc tăng theo thời gian, mỗi số hóa đơn đảm bảo chỉ được lập, sử dụng một lần duy nhất trong cùng một ký hiệu mẫu số hóa đơn, ký hiệu hóa đơn và tối đa 8 chữ số.”

– Sửa đổi điểm b khoản 5 (Nội dung về tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua)

“5. Tên, địa chỉ, mã số thuế, mã số định danh của người mua

b) Trường hợp người mua không có mã số thuế thì trên hóa đơn không phải thể hiện mã số thuế người mua; trường hợp người mua được cấp mã số định danh theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử thì thể hiện mã số định danh của người mua. ….”

– Sửa đổi điểm a, c, d, đ khoản 6:

Điểm a (Tên, đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ):

+ Bổ sung thêm quy định “Trường hợp kinh doanh vận tải thì trên hóa đơn phải thể hiện biển kiểm soát phương tiện vận tải, hành trình (điểm đến – điểm đi), cự li chuyến đi tính theo km.” đối với tên hàng hoá, dịch vụ.

+ Bổ sung thêm quy định về “Trường hợp cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ đặc thù được sử dụng bảng kê kèm theo hóa đơn; bảng kê được lưu giữ cùng hóa đơn để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu của các cơ quan có thẩm quyền.”: các dịch vụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính được lập hóa đơn sau khi đối soát dữ liệu.

Điểm c, d: Sửa đổi quy định đối với trường hợp bán hàng thu ngoại tệ không phải chuyển đổi ra đồng Việt Nam thì thể hiện theo ngoại tệ thay vì nguyên tệ như quy định hiện hành.

Điểm đ (Quy định về chiết khấu thương mại): Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng hoặc khuyến mại theo quy định của pháp luật thì phải thể hiện rõ khoản chiết khấu thương mại, khuyến mại trên hóa đơn. Trường hợp việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa, dịch vụ đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau đảm bảo số tiền chiết khấu không vượt quá giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh cho các hóa đơn đã lập. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh thu mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.

– Sửa đổi khoản 9 (Thời điểm ký số trên hoá đơn điện tử):

“9. Thời điểm ký số trên hóa đơn điện tử là thời điểm người bán, người mua sử dụng chữ ký số để ký trên hóa đơn điện tử được hiển thị theo định dạng giờ, ngày, tháng, năm của năm dương lịch. Trường hợp hóa đơn điện tử đã lập có thời điểm ký số trên hóa đơn khác thời điểm lập hóa đơn thì thời điểm lập hóa đơn và thời điểm ký số cách nhau tối đa không quá 24h và thời điểm để khai thuế đối với người bán là thời điểm lập hóa đơn, thời điểm khai thuế đối với người mua là thời điểm hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.”

– Sửa đổi điểm c khoản 13 (Đồng tiền ghi trên hoá đơn):

Bổ sung quy định về tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt Nam trên hoá đơn: “là tỷ giá mua của Ngân hàng Thương mại nơi người bán mở tài khoản, riêng trường hợp dầu thô và khí thiên nhiên bán tại thị trường Việt Nam được xác định giá ghi trên hợp đồng mua bán bằng đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi phù hợp với thông lệ quốc tế và hợp đồng dầu khí thì chỉ tiêu đơn giá, thành tiền, tổng số tiền thuế giá trị gia tăng theo từng loại thuế suất, tổng cộng tiền thuế giá trị gia tăng, tổng số tiền thanh toán được ghi bằng ngoại tệ, đơn vị tiền tệ ghi tên ngoại tệ. Người bán đồng thời ghi trên hóa đơn tỷ giá quy đổi ngoại tệ với đồng Việt Nam là tỷ giá mua của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam.”

– Sửa đổi điểm c khoản 14; loại bỏ điểm d, bổ sung điểm l:

Điểm c: Loại bỏ quy định “Đối với hóa đơn điện tử bán hàng tại siêu thị, trung tâm thương mại mà người mua là cá nhân không kinh doanh thì trên hóa đơn không nhất thiết phải có tên, địa chỉ, mã số thuế người mua.”

Loại bỏ điểm d (quy định về chữ ký số đối với  hóa đơn điện tử là tem, vé, thẻ thì trên hóa đơn)

Điểm l: Bổ sung quy định về tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký điện tử của người mua.

Xem thêm nội dung tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 123/2020.

Bình luận bị đóng.